Các công cụ nợ (debt instruments):

14

Các công cụ nợ (debt instruments):

Các công cụ nợ do ngân hàng, chính phủ và công ty phát hành. Các công cụ nợ có nhiều hình thức khác nhau. Điều này xuất phát từ nhu cầu khác nhau của người cho vay và người đi vay. Xét về mặt kỹ thuật tính lãi suất, các công cụ nợ có thể được chia thành bốn nhóm: các khoản nợ đơn, trái phiếu chiết khấu, trái phiếu coupon và các khoản nợ thanh toán cố định.

– Nợ đơn (simple loan) là khoản nợ mà người vay nợ đồng ý trả cho người cho vay tiền gốc cộng với tiền lãi khi đáo hạn.

Ví dụ: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) cung cấp cho công ty A một khoản nợ đơn 10.000 đôla Mỹ với kỳ hạn 1 năm và lãi suất 10% một năm. Sau một năm, công ty A phải trả cho ngân hàng VCB tổng số tiền là 10.000 + (10%× 10.000) = 11.000 đôla Mỹ (tiền gốc 10.000 đôla và tiền lãi 1.000 đôla). Dòng thời gian của nợ đơn được biểu thị như sau: 

Chúng ta có thể diễn tả nghiệp vụ trên bằng công thức:

Tổng số tiền thanh toán khoản nợ vay = P + iP = P(1+i) Trong đó P là tiền gốc, i là lãi suất.

Nếu khoản tiền trên được vay không phải trong 1 năm mà 2 năm, trả gốc và lãi khi đáo hạn, với lãi suất vẫn là 10% trên 1 năm thì tổng số tiền phải thanh toán khoản nợ vay sẽ là P(1+i) + iP(1+i) = P(1+i)2. Nếu là khoản khoản tiền được vay trong n năm liên tục thì số tiền khi thanh toán sẽ là P(1+i)n. Thực chất đây là cách tính lãi mà lãi hàng năm được gộp gốc để tính lãi cho kỳ tiếp theo, hay còn gọi là cách tính lãi gộp.

– Trái phiếu chiết khấu

Đối với loại trái phiếu chiết khấu, người đi vay trả cho người cho vay một khoản thanh toán đơn đúng bằng mệnh giá của trái phiếu. Ví dụ, công ty A phát hành trái phiếu chiết khấu thời hạn 1 năm với mệnh giá 10.000 đôla Mỹ. Khi đó công ty A nhận được số tiền vay là 9.091 đôla và thanh toán 10.000 đôla sau một năm. Có thể biểu thị dòng thời gian đối với trái phiếu chiết khấu của công ty A như sau: 

– Trái phiếu coupon

Phát hành trái phiếu coupon, người đi vay thực hiện thanh toán nhiều lần số tiền lãi theo định kỳ. Chẳng hạn như nửa năm hoặc một năm một lần và thanh toán tiền gốc khi đáo hạn. Một trái phiếu coupon phải ghi rõ ngày đáo hạn, mệnh giá, người phát hành (chính phủ, công ty…) và lãi suất coupon. Lãi suất coupon được xác định bằng số tiền thanh toán hàng năm chia cho mệnh giá. Ví dụ, công ty A phát hành trái phiếu với mệnh giá 10.000 đôla, kỳ hạn 20 năm và lãi suất coupon là 10%. Như vậy, công ty A sẽ thanh toán 1.000 đôla hàng năm, thanh toán 10.000 đôla khi đáo hạn 20 năm. Thực chất đây là cách tính lãi suất trong đó lãi hàng năm không được gộp vào gốc để tính lãi cho kỳ tiếp theo hay còn gọi là cách tính lãi đơn. Dòng thời gian thanh toán trái phiếu coupon của công ty A được minh họa như sau: 

– Nợ vay thanh toán cố định

Đối với khoản vay thanh toán cố định thì người đi vay phải thanh toán cho người cho vay theo định kỳ (tháng, quý, hoặc năm). Số tiền thanh toán bao gồm tiền lãi và tiền gốc. Thông thường các khoản nợ thanh toán cố định là các khoản vay thế chấp nhà, các khoản vay của sinh viên, các khoản vay mua tài sản trả góp…

Ví dụ, một sinh viên vay một khoản nợ 10.000 đôla với kỳ hạn 10 năm, lãi suất 9% một năm thì hàng tháng sinh viên đó phải trả xấp xỉ 125 đôla. Dòng thời gian thanh toán khoản nợ của sinh viên là: 

Nguồn: Ths. Đặng Thị Việt Đức – Ths. Phan Anh Tuấn (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)